08:50 ICT Thứ ba, 02/09/2014
Bình Dương
Lịch làm việc
thôngbao
chính phủ
Tổng cục du lịch
Bảng đồ

 

Liên kết website

Liên kết website

Trang nhất » Du Lịch » Di tích và Danh thắng

Chiến khu Đ

Thứ sáu - 07/09/2012 22:52
Chiến khu Đ, với quá trình xây dựng, phát triển và chiến đấu suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đã lập nên những chiến công vẻ vang mãi mãi là niềm tự hào của Đảng bộ, quân dân Miền Nam nói chung, Đảng bộ, quân dân Miền Đông Nam bộ nói riêng. Di tích đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia theo Quyết định số 1631/QĐ-BVHTTDL ngày 11/5/2010.

         Thời kỳ chín năm chống Pháp, Chiến Khu Đ được hình thành khởi đầu vào tháng 2/1946, chủ yếu từ hạt nhân 5 xã: Tân Hòa, Mỹ Lộc ,Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An thuộc quận Tân Uyên tỉnh Biên Hòa – Nay thuộc tỉnh Bình Dương. Từ năm 1948, 1949 trở đi, Chiến Khu Đ được mở rộng ra, lấy đường 16 từ phía tây và sông Đồng Nai từ phía Nam làm ranh giới để không ngừng mở mang phía Bắc lên tới Phước Hòa và phía đông tới Sông Bé, rồi vượt qua Sông Bé phát triển mãi lên phía Bắc và Đông Bắc. Dù vậy, phạm vi chủ yếu của nó nằm trên vùng đất: Tây giáp đường 16 đoạn từ thị trấn Tân Uyên lên Cổng xanh; bắc giáp Sông Bé đoạn từ cầu Phước Hòa lên Chánh Hưng, đông vẫn giáp Sông Bé đoạn từ Chánh Hưng đến ngã ba Hiếu Liêm và nam giáp sông Đồng Nai đoạn từ ngã ba Hiếu Liêm về thị trấn Tân Uyên.

          Sang thời kỳ chống Mỹ, do đặc điểm về quy mô của cuộc chiến tranh, từ phạm vi chiến khu cũ (chủ yếu nằm trên địa bàn Tân Uyên), Ta chuyển dần trung tâm căn cứ lên phía đông bắc. Đến đầu năm 1975, căn cứ được xây dựng hoàn chỉnh, phạm vi phát triển đến mức cao nhất. Toàn bộ căn cứ địa nằm ở phía bắc sông Đồng Nai, phía tây giáp địa giới hai tỉnh Bình Long và Phước Long cũ, Phía bắc giáp biên giới Việt Nam – Căm-Pu-Chia và phía đông giáp địa giới ba tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Đắc Lắc hiện nay kéo về rừng Cát Tiên phía thượng nguồn sông Đồng Nai bên hữu ngạn.

          Danh từ “ Chiến Khu Đ” nhằm chỉ vùng căn cứ nói trên ra đời vào cuối tháng 2/1946, khi thực dân Pháp chiếm đóng được quận lỵ Tân Uyên. Tổng hành dinh Khu 7 và lực lượng vũ trang Biên Hòa rút sâu vào rừng, công tác xây dựng căn cứ được đặt ra một cách cấp thiết, cụ thể: Đ là mật danh chỉ vị trí tổng hành dinh của Khu 7 nằm trong hệ thống các vị trí căn cứ được tính theo thứ tự các chữ cái A, B, C…Dần dần về sau, mật danh Đ được dùng để chỉ luôn cả chiến khu ngày càng phát triển về phạm vi như đã trình bày ở trên. (Ngoài ra, cũng có những ý kiến khác nhau cho rằng : Đ là chữ cái đầu viết tắt địa danh Đất Cuốc, nơi bộ đội Huỳnh Văn Nghệ khởi cứ điểm đầu tiên, tập hợp lực lượng, mở trại huấn luyện ngay trong ngày đầu kháng chiến; Đ là chữ cái viết tắt từ chỉ tính chất cách mạng của chiến khu (Chiến khu Đỏ, Chiến khu Đảng) để phân biệt với căn cứ một số ít lực lượng vũ trang không cách mạng lúc bấy giờ; Đ là chữ viết tắt của chiến khu Đồng Nai, Chiến khu Miền Đông, Chiến khu Đầu tiên…)

 

          Với những ưu điểm về điều kiện tự nhiên, Chiến Khu Đ có một vị trí quân sự đặc biệt quan trọng. Nằm trong hệ thống rừng núi phía bắc miền Đông Nam Bộ, địa hình hiểm trở, Chiến Khu Đ là một khu vực lý tưởng cho việc xây dựng căn cứ, nơi cất giấu lực lượng, cất giữ kho tàng và phát triển mọi mặt của một căn cứ địa kháng chiến. Lưng dựa vào Trường Sơn và vùng rừng núi miền nam Đông Dương, dính với một phần đoạn cuối đường Hồ Chí Minh, phía trước lấn sát vùng đồng bằng đông dân cư và các khu đô thị lớn, Chiến Khu Đ còn là một vị trí án ngữ chiến lược, nối nhiều chiến trường với nhau, là một trong những địa điểm liên lạc, tiếp nối, trung chuyển quan trọng từ hậu phương miền Bắc vào miền Nam. Hơn nữa, với ưu thế tiếp cận các đường giao thông chiến lược, các đô thị lớn và trung tâm sào huyệt địch- thành phố Sài Gòn, Chiến khu Đ có ưu thế là một bàn đạp quân sự quan trọng đặc biệt. Từ đây, các lực lượng kháng chiến có thể mở các cuộc tiến công vào mục tiêu quân sự, chính trị, kinh tế của địch ở Sài Gòn, thị xã Biên Hòa, thị xã Thủ Dầu Một cùng toàn bộ các đường giao thông và cứ điểm quân sự địch trên vùng Đông Bắc miền Đông Nam Bộ.

          Trong kháng chiến chống Pháp, Chiến khu Đ là một trong những căn cứ quan trọng của các cấp ủy Đảng, các tổ chức chính quyền và cơ quan chỉ huy quân sự thuộc nhiều huyện, tỉnh lân cận đến khu 7, phân Liên khu Miền Đông và Nam Bộ. Trong đó thường xuyên nhất là tỉnh Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Khu 7. Đây cũng là nơi xây dựng các đơn vị vũ trang tập trung các cấp từ phân đội nhỏ lẻ buổi đầu kháng chiến đến chi đội (1,10) trung đoàn (301, 310), liên trung đoàn (301-310), tiểu đoàn chủ lực 303, tiểu đoàn vận tải 320…

          Trong kháng chiến chống Mỹ, địa bàn Chiến khu Đ là nôi xây dựng, đứng chân của các cơ quan lãnh đạo của Đảng, của các lực lượng vũ trang từ huyện, tỉnh, liên tỉnh, quân khu đến Trung ương Cục. Từ đây đã ra đời những đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên của Miền Đông và của các Xứ Ủy như : C50, C9, C80, C59, C200, C250, trung tập trung thành tiều đoàn 800, tiểu đoàn 500, trung đoàn Đồng Nai. Đây cũng là nơi thành lập và đứng chân tác chiến của lực lượng chủ lực Miền như trung đoàn 762, sư đoàn 9, sư đoàn 5, sư đoàn 7. Và trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975 là nơi tập kết của lực lượng quân đoàn 1, quân đoàn 4 trước khi tiến về giải phóng Sài Gòn.

          Chiến khu Đ là một trong những hậu phương trực tiếp, tại chỗ của chiến trường Nam Bộvà Khu 6, là đầu mối giao thông chiến lược từ Trung ương vào Nam Bộ, là nơi tiếp nhận, cất giữ, chuyển phát cơ sở vật chất, cung cấp một phần nhân vật lực cho cuộc kháng chiến.

          Tên Chiến khu Đ gắn liền với những chiến thắng vang dội trong lịch sử chống ngoại xâm của quân và dân Miền Đông Nam Bộ. Đó là chiến thắng Lạc An, Tân Uyên, Nhà Nai, Mã Đà, Cầu Bà Kiên và hàng chục trận đánh bại các cuộc càn quét quy mô lớn kéo dài hàng tháng trời của địch trong kháng chiến chống Pháp; là chiến thắng Phước Thành, Đất Cuốc, Đồng Xoài, Đường 14, Phước Long… trong kháng chiến chống Mỹ.

Vết tích hố bom B52 tại Chiến khu Đ

 

          Về phương diện chính trị, tinh thần, Chiến khu Đ tồn tại như một biểu tượng của cuộc kháng chiến, tiêu biểu cho ý chí, sức mạnh tinh thần của toàn dân, là nguồn hy vọng, là niềm tin của toàn thể cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên địa bàn Miền Đông Nam Bộ.

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thông tin cấp phép

Lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 100

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 98


Hôm nayHôm nay : 723

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 2457

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 793921